Cập nhật lúc 17:35:11 13-10-2020 (GMT+7)

TP.HCM: Khai mạc Đại Giới đàn Huệ Hưng

Sáng nay, 13/10 (nhằm 26/8 năm Canh Tý), tại Việt Nam Quốc Tự (đường 3/2, quận 10), Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (BTS GHPGVN) TP.Hồ Chí Minh trang nghiêm tổ chức lễ khai mạc Đại Giới đàn Huệ Hưng được diễn ra từ ngày 12-15/10/2020 (25-28/8 năm Canh Tý), Hoà Thượng Thích Thiện Nhơn – Chủ tịch HĐTS GHPGVN tham dự và ban đạo từ trong buổi lễ.

Quang lâm chứng minh và tham dự có: HT.Thích Trí Quảng – Phó Pháp chủ kiêm Chủ tịch Hội đồng Giám luật Hội đồng Chứng minh (HĐCM); HT. Thích Đức Nghiệp – Phó Pháp chủ HĐCM; HT Thích Hiển Tu – Phó Thư ký Thường trực HĐCM – Chứng minh BTS GHPGVN TP. HCM; HT. Thích Giác Giới – Phó Thư ký HĐCM; HT Thích Như Niệm; HT Thích Giác Tường; HT. Thích Viên Minh; HT đồng UVTT HĐCM. HT. Thích TỊnh Hạnh; HT Thích Như Tín; HT. Thích Giác Hà, HT. Thích Giác Dũng; HT. Thích Giác Cầu – đồng thành viên HĐCM – Chứng minh PGVN TP HCM. HT. Yoshimizu Dachi – nguyên Hội trưởng Hội Phật giáo Tịnh độ tông Nhật Bản; HT. Thích Thiện Nhơn – Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, HT. Thích Thiện Pháp – Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS, Trưởng ban Tăng sự T.Ư; chư Tôn đức Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN: HT. Thích Giác Toàn, HT. Thích Thiện Tánh, HT. Thích Thiện Tâm; HT. Thích Minh Thông – Tuyên luật sư cùng chư Tôn đức HĐTS, các Ban, Viện Trung ương, Văn phòng 2 T.Ư GH và Ban Thường trực BTS GHPGVN TP. HCM, 24 quận, huyện.

Sau phần giới thiệu và tuyên bố lý do, HT. Thích Thiện Tâm – Phó Chủ tịch HĐTS, Phó ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, Phó ban Tổ chức Đại giới đàn đọc diễn văn khai mạc Đại giới đàn. Trong diễn văn, Hòa thượng nhấn mạnh: “Phật sự hàng đầu của Giáo hội là ổn định nếp sống thiền gia tại các cơ sở tự viện, phát huy năng lực hành đạo của chư tôn đức Tăng, Ni qua mọi chương trình hoạt động Phật sự trên các lĩnh vực chuyên môn của Giáo hội và xã hội, trong đó trọng yếu là đào tạo tăng tài, chuyền bá chánh pháp, khai kiến giới đàn, truyền trao giới pháp cho Tăng, Ni có đủ điền kiện thọ giới ngõ hầu; Đại giới đàn là trường tuyển người làm Phật. Từ giờ phút này, các giới tử với ba nghiệp trang nghiêm, bổn tâm thanh tịnh, một lòng thành kính cầu thọ giới pháp mà Hội đồng Thập sư sẽ trao truyền cho giới tử tại 05 Giới trường nghiêm tịnh, trở thành 1 tân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na, Sa di và Sa di ni, một thành viên của Giáo hội, một vị đạo sư cho đàn hậu học trong tương lai”.

Thay mặt GHPGVN TP. HCM, Hoà thượng Thích Lệ Trang – Trưởng ban Nghi lễ GHPGVN TP.HCM đã cung tuyên Tiểu sử cố Trưởng lão HT.Thích Huệ Hưng – Tôn hiệu của Đại giới đàn.

Hòa thượng Thích Huệ Hưng (1917 – 1990) pháp húy Ngộ Trí thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 39, là đệ tử Sư tổ Vạn An (Sa Đéc).

Ngài thế danh là Nguyễn Thanh Chẩm, sanh năm Đinh Tỵ (1917) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 2, tại làng Mỹ Thọ, quận Cao Lãnh, thuộc tỉnh Vĩnh Long (nay tỉnh Đồng Tháp). Thân phụ là cụ Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ Trần Thị Mậu pháp danh Diệu Thiệt. Năm 62 tuổi, cụ bà xuất gia thọ giới Sa Di Ni.

Là con trưởng trong gia đình gồm bảy anh em, Ngài dìu dắt các bào đệ bước vào lộ trình giải thoát như: Hòa thượng Thích Huệ Viên (1924-2011), trụ trì chùa Sơn Bửu, Vũng Tàu; Hòa thượng Thích Minh Cảnh (1937-2018), trụ trì tu viện Huệ Quang; Ni trưởng Thích Nữ Như Trí (đã viên tịch năm 1978); Ni trưởng Thích Nữ Như Diệu, trụ trì tu viện Diệu Đức, Quận Bình Thạnh.

Vốn sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, nhiều đời kính tín Tam Bảo, từ nhỏ, Ngài sớm nhận thức cảnh trần gian ảo mộng, cuộc đời giả huyễn vô thường nên đã đến núi Sập (nay thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang), để tìm nơi tu dưỡng, hằng ngày lo niệm Phật tụng kinh. Năm Mậu Dần (1938), Ngài có phúc duyên được Tổ sư Vạn An Thích Chánh Thành (1872-1949) tế độ xuất gia tại Tổ đình Vạn An, rạch Cái Xếp (nay xã An Nhơn, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp) và được ban pháp hiệu Huệ Hưng; và sau đó, Ngài được học tại trường Gia giáo Tổ đình Vạn An.

Năm Quý Mùi (1943) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 28, Tổ Vạn An biết Ngài là người có chủng tử pháp khí Đại Thừa, xứng đáng ngôi Long Tượng của Phật pháp bèn quyết định cho thọ Tỳ Kheo Bồ Tát Giới tại chùa Viên Giác ở Vĩnh Long và tu học kinh luật suốt 10 tháng ở đây.

Năm 1945 Hòa thượng đến Phật học đường Lưỡng Xuyên – Trà Vinh tu học 6 tháng. Sau đó trở về cầu học với Hoà thượng Thích Hành Trụ tại Long An – Sa Đéc

Cuối mùa đông Đinh Hợi (1947), Ngài cầu học với Hòa Thượng Thích Trí Tịnh (1917-2014) tại Phật Học Đường Liên Hải – Sài Gòn.

Năm Canh Dần (1950), Ngài được Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Hòa đích thân mời tham gia giảng dạy tại Phật học đường Nam Việt, Sùng Đức Cổ Tự (nay 688 Hồng Bàng, phường 1, quận 11, TP. HCM).

Năm Tân Mão (1951), Ngài dưỡng bệnh tại chùa Giác Nguyên – Khánh Hội (nay Quận 4, TP. HCM), đồng thời dạy giảng dạy kinh luật cho Tăng chúng. Cũng tại nơi này, Ngài phiên dịch kinh Duy Ma Cật và Kim Cang Giảng Lục.

Năm Giáp Ngọ (1954), với hoài bão “Hoằng pháp là nhà, lợi sinh là sự nghiệp”, Ngài đã phụ giúp Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Hòa, viện chủ Tổ đình Ấn Quang giảng các bộ kinh Đại Thừa.

Năm Ất Mùi (1955), Hòa thượng Thích Trí Tịnh mời Ngài phụ trách Phó Liên trưởng Hội Cực Lạc Liên Hữu tại chùa Liên Trì, tỉnh Phước Tuy (nay thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) do Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Chánh Liên trưởng.

Năm Bính Thân (1956), Ngài sang thủ đô Phnôm Pênh, Vương quốc Phật giáo Campuchia dạy khóa hạ tại chùa Chuẩn Đề, khi trở về Việt Nam, Ngài được mời ngôi vị Phương trượng trụ trì Tổ đình Kim Huê Cổ Tự – Sa Đéc.

Năm Đinh Dậu (1957), Giáo Hội Tăng Già Nam Việt mở khóa huấn luyện trụ trì “Như Lai Sứ Giả” tại chùa Pháp Hội do Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Hòa (1907-1978) làm Trưởng ban và mời Ngài đảm nhiệm Phó trưởng ban kiêm Chánh Thư ký.

Năm Mậu Tuất (1958), Ngài giảng dạy tại Phật Học Đường Phước Hòa (nay tọa lạc tại địa chỉ: 104 Đường Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 02 Thành phố Trà Vinh, Tỉnh Trà Vinh).

Ngày 10 tháng 3 năm 1959 (nhằm ngày 02/2/Kỷ Hợi), Ngài chính thức xin từ chức Trụ trì Tổ đình Kim Huê, để dành thời gian chuyên tu, nghiên cứu trước tác, dịch thuật và giảng dạy, trước sự hiện diện của chư tôn thiền đức tăng già, Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích Từ Nhơn, Hòa thượng Thích Chánh Đạo, đại diện Ni chúng Ni sư Thích nữ Như Hoa (1909-1989), đại diện Thiện nam cư sĩ  Nguyễn Văn Kiều, đại diện Tín nữ cư sĩ Nguyễn Thị Trình và tứ chúng bổn đạo Tổ đình Kim Huê.

Sau khi bỏ phiếu bầu dân chủ về Ban Chức sự Tổ đình Kim Huê, Thượng tọa Thích Huệ Phát (1921-1990) đắc cử Quyền Trụ trì kiêm Thủ quỹ, Thượng tọa Thích Thiện An đảm nhiệm chức Tri sự, Thượng tọa Thích Thiện Tâm (1928-2017) đảm nhiệm chức Thư ký Tổ đình Kim Huê dưới sự cố vấn tối cao Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Cố vấn Trụ trì Hòa thượng Thích Huệ Hưng.

Năm Canh Tý (1960), Ngài giao nhiệm lại cho Hòa thượng Thích Huệ Phát giữ chức vụ trụ trì Tổ đình Kim Huê Cổ Tự – Sa Đéc để Ngài yên tâm nhập thất thiền định.

Năm Tân Sửu (1961) Đại giới đàn tại ngôi già lam Vạn Thọ Cổ Tự, (nay 247 Hoàng Sa, Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) Ngài được cung thỉnh Giáo Thọ A Xà lê.

Năm Nhâm Dần (1962), Ngài xây dựng Thiền viện Tập Thành gần chợ Bà Chiểu, Sài Gòn (nay thuộc quận Bình Thạnh, TP. HCM) và làm Yết Ma A Xà lê truyền giới sư Đại giới đàn Phật Học Đường Nam Việt chùa Ấn Quang.

Năm Giáp Thìn (1964), ngài được mời làm giới sư tại Đại giới đàn Việt Nam Quốc Tự do GHPGVNTN tổ chức.

Từ năm Bính Ngọ (1966) đến Kỷ Dậu (1969) Ngài làm Giới sư truyền giới và  giáo sư tại Phật Học Viện Cao Đẳng Huệ Nghiêm, và giảng kinh Viên Giác và Luật Tứ phần tại chùa Tuyền Lâm (nay tọa lạc tại 887 Hồng Bàng, Phường 9, Quận 6, TP.HCM).

Năm Canh Tuất (1970), Ngài khai sơn Tu Viện Huệ Quang rồi thường trụ và hành đạo tại đây cho đến ngày viên tịch. Ngài được mời làm giới sư tại các giới đàn: Linh Sơn Cổ Tự, Phường Cầu Muối, Quận Nhất, Sài Gòn, Tu viện Quảng Đức, huyện Thủ Đức (năm Tân Hợi – 1971), Huệ Quang, Chùa Phật Ân  – Mỹ Tho (năm Nhâm Tý – 1972), Phước Huệ – Nha Trang (năm Quý Sửu – 1973), Phật Học Viện Hải Đức, Chùa Long Sơn – Nha Trang. Trong năm này, Ngài được Hòa thượng Thích Trí Tịnh mời vào thành viên Hội đồng Phiên dịch Tam Tạng giáo điển, thuộc Viện Tăng thống GHPGVN Thống Nhất.

Năm Giáp Dần (1974), Ngài được thỉnh cử Giới sư tại Đại giới đàn chùa Quảng Đức, Long Xuyên do Hòa thượng Thích Tắc Phước làm Trưởng Ban Kiến Đàn. Đồng thời, Ngài được thỉnh cử ngôi vị Thành viên Hội đồng giáo phẩm Trung ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Cũng trong năm này, Đại lão Hòa thượng Phó Tăng thống GHPGVNTN Thích Thiện Hòa lâm trọng bệnh, Ngài được thỉnh cử Tổng lý Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang, Đại Tòng Lâm và các cơ sở trực thuộc.

Năm Ất Mão (1975) , Ngài được thỉnh cử Giới sư tại Đại giới đàn Thiện Hoa chùa Ấn Quang.

Từ năm Bính Thìn (1976)  đến Canh Thân (1980), hai Đại giới đàn Quảng Đức và Thiện Hòa được mở ra tại Tổ đình Ấn Quang, Ngài được cung thỉnh làm Yết Ma A Xà Lê.

Năm Mậu Ngọ (1978) Đại giới đàn tổ chức tại Chùa Giác Sanh, Quận 11, TP. HCM, ngài được cung thỉnh đương vi Yết Ma A Xà lê.

Năm Canh Thân (1980) Đại giới đàn tổ chức tại Tổ đình Ấn Quang, Ngài được cung thỉnh đương vi Yết Ma A Xà lê.

Năm Nhâm Tuất (1982), Thành Hội Phật Giáo Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ I đề cử ngài giữ chức vụ Phó Ban Trị Sự Thành hội PG TP.HCM kiêm Ủy viên Giáo dục Tăng Ni.

Năm Quý Hợi (1983), Ngài được mời cương vị giảng sư Trường hạ chùa Xá Lợi, quận 3, do Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.

Năm Giáp Tý (1984), Ngài được thỉnh cử Giới sư Đại giới đàn Thiện Hòa do Thành Hội Phật Giáo TP.HCM tổ chức tại Tổ đình Ấn Quang. Từ đó cho đến ngày viên tịch, ngài được mời giảng dạy tại các trường hạ do Thành Hội tổ chức, và đảm nhiệm chức Hiệu Phó kiêm Giám Luật, giảng viên Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam cơ sở 2, Thiền viện Vạn Hạnh, 750 đường Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận, TP.HCM

Năm Đinh Mão (1987), Đại Hội Phật Giáo nhiệm kỳ II, Ngài được tái cử chức vụ Phó Ban Trị Sự Thành Hội PG TP.HCM. Mùa an cư năm này, Ngài làm Thiền chủ trường hạ do Thành Hội PG TP.HCM tổ chức tại Tổ đình Vĩnh Nghiêm. Tháng 10/1987, Ngài đi dự Đại Hội Phật Giáo toàn quốc kỳ II tại Hà Nội. Ngài được tấn phong Hòa thượng và được đề cử ngôi vị Trưởng ban Tăng sự Trung ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Năm Mậu Thìn (1988), Ngài làm Yết Ma A Xà Lê tại Đại giới đàn do Thành Hội Phật Giáo tổ chức lần thứ II tại Tổ đình Ấn Quang.

Năm Kỷ Tỵ (1989), Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam được thành lập, Ngài được cử làm Trưởng ban Phật giáo chuyên môn cho đến ngày viên tịch.

Cuộc đời hành hóa của Ngài rất bình dị, chơn tu thật học, nghiêm trì giới luật, xiển dương Phật pháp bằng con đường giáo dục. Ngài là vị Luật sư, Thiền sư, Giáo thọ của Tăng Ni, Phật Tử trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Quy luật tạo hóa theo tuần hoàn sinh trụ dị diệt, tứ đại theo duyên tăng giảm. Cuối năm Kỷ Tỵ (1989), ngày 28 tháng giêng, Ngài bảo thị giả Thiện Hữu dìu đỡ Ngài lên Tổ đường để đảnh lễ liệt vị Tổ sư lần cuối, sau đó trở về Phương trượng tĩnh tọa. Vì ý nguyện của Ngài muốn an tịch trong tư thế kiết già thiền tọa, nên thị giả Thiện Hữu đã đỡ Ngài ngồi và cùng ngồi sau lưng Ngài. Đến khoảng 10 giờ 40 phút, như có linh cảm, thị giả Thiện Hữu mở mắt nhìn Ngài và thấy Ngài vẫn an nhiên bất động. Thị giả Thiện Hữu bèn đứng dậy lặng lẽ bước ra ngoài, báo cho Thầy Trụ trì Thích Minh Cảnh tin Ngài đã viên tịch. Khi Thầy Trụ trì vào, thì Ngài đã an nhiên thị tịch tại Phương trượng Tu viện Huệ Quang, vào lúc 10 giờ 45 phút sáng ngày 28 tháng giêng năm Canh Ngọ (23/2/1990).

Ngài trụ thế được 74 Xuân, với 46 hạ lạp. Bảo tháp Ngài được xây dựng tại Đại Tòng Lâm – Bà Rịa Vũng Tàu để cùng đứng chung với các vị tiền bối đã kiến tạo nên cơ sở Tổ đình Ấn Quang.

Phụng vì Việt Nam Phật Giáo, Giáo hội Tăng sự Trưởng ban, tự Lâm Tế Chánh Tông, Tam thập cửu thế Thượng Huệ Hạ Hưng, húy Ngộ Trí Nguyễn Công Hòa Thượng giác linh.

Hoà thượng Thích Trí Quảng ban lời huấn từ: “Đức Phật dạy, trong Tứ sanh lục đạo, chỉ có loài người mới có thể xuất gia, mới có thể làm sa môn, mới có thể làm thánh, làm Phật. Chúng ta may mắn làm người, nhưng có nhiều người không được lãnh thọ giáo pháp vì có nhiều chướng duyên. Vì vậy, đã được làm người, đã vượt qua những kỳ thi khảo hạch, vượt qua những quy định Giáo hội, hôm nay chính thức đăng đàn thọ giới trở thành 1 thành viên GHPGVN. Đây là điều quan trọng nhất trong cuộc đời người đi xuất gia. Vượt qua các kỳ sát hạch, đủ điều kiện nhưng có điều kiện vô cùng quan trọng đó là chí thành khẩn thiết cầu được chánh pháp đức Phật ban cho. Hoà thượng Hụê Hưng là một vị cao Tăng trong hiện đại, ngài đã làm được điều đó, các huynh đệ được thọ giới trong giới đàn Huệ Hưng, chúng ta cố gắng làm được việc đó. Cầu giác linh Hoà thượng chứng minh cho tất cả đàn hậu bối hôm nay phát tâm thọ giới trong giới đàn mang tôn danh Ngài cũng được thanh tịnh và trí tuệ xứng đáng là người kế thừa mạng mạch của Phật giáo trong thời hiện đại”.

Ban đạo từ, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn cũng tán thán sự trang nghiêm của Đại giới đàn và chúc cho Đại giới đàn thành tựu viên mãn: “Trung ương GHPGVN tán thán các giới tử đã vượt qua khó khăn, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Giáo hội, đặt trọn niềm tin, hướng về đây với tấm lòng trí thành được thọ giới. Các Tăng, Ni giới tử đã được đăng đàn thọ giới, gặp được Phật, Pháp, Tăng, gặp được Tam bảo, gặp được GHPGVN TP.HCM khai Đại giới đàn truyền trao chánh pháp. Sau đó, Hòa thượng nhắc nhở các giới tử “Sau khi đắc giới, phải tinh tấn hơn nữa, gìn giữ giới luật trang nghiêm thanh tịnh, như giữ gìn mạng sống của chính mình, thực hiện hạnh nguyện tự lợi và lợi tha, được như vậy mới xứng danh là Trưởng tử của đức Như Lai như đức HT. Huệ Hưng đã làm và đạt được”.


Thay mặt Ban Tổ chức, TT. Thích Thiện Quý –  Ủy viên HĐTS, Phó ban kiêm Chánh Thư ký BTS GHPGVN TP. HCM Báo cáo tiến trình tổ chức Đại Giới Đàn. Theo đó, Đại giới đàn Huệ Hưng do BTS GHPGVN TP.HCM tổ chức từ ngày 12-15/10 (nhằm 25 – 28/8 năm Canh Tý). Theo TT.Thích Thiện Quý, Đại giới đàn Huệ Hưng có hồ sơ giới tử Tăng Ni tham dự khảo hạch với 772 giới tử đủ điều kiện nhập giới đàn. Theo đó, địa điểm truyền giới cho Giới tử Tăng (Bắc Tông): Việt Nam Quốc tự (giới tử Tỳ kheo, Sadi); Chùa Thanh Tâm (Bình Chánh) địa điểm truyền giới cho giới tử Ni (Bắc Tông, Tỳ kheo Ni, Thức Xoa Ma Na),  chùa Bửu Quang (Thủ Đức) cho giới tử Tỳ-kheo, Sa-di – Hệ phái Phật giáo Nam tông Kinh;  Tịnh xá Trung Tâm (Q.Bình Thạnh), cho giới tử Tỳ-kheo, Sa-di Hệ phái Khất sĩ;  Tịnh xá Ngọc Phương (Q.Gò Vấp) cho giới tử Tỳ-kheo Ni, Thức xoa, Sa-di Ni Hệ phái Khất sĩ.

Đại diện cho 772 giới tử tham dự đã dâng lời phát nguyện “…Sau khi thọ lãnh giới pháp chúng con sẽ luôn luôn kính Giới luật như mạng sống của mình, luôn nghiêm trì giới pháp, trang nghiêm tự thân, sống đời mô phạm, sớm tối chuyên cần dồi trau Thánh điển, thân cận thiện tri thức, để tiến tu đạo nghiệp xứng là hàng đệ tử của Đức Phật…”

Trước đó, chiều ngày 12/10, Ban Tổ chức Đại giới đàn đã về Tu viện Huệ Quang làm lễ rước di ảnh cố Trưởng lão HT.Thích Huệ Hưng, tôn danh được lấy làm tôn hiệu của Đại giới đàn, nguyên Trưởng ban Tăng sự Trung ương; nguyên Trưởng ban Phật giáo chuyên môn của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam; nguyên Phó Trưởng ban Trị sự GHPGVN TP.HCM về Việt Nam Quốc Tự.

HT Thích Thiện Đức – Phó Ban tổ chức phát biểu cảm tạ khép lại lễ khai mạc Đại giới đàn Huệ Hưng.

Sau lễ khai mạc, HT. Thích Minh Thông, Tuyên Luật sư của Đại giới đàn đã có thời khai đạo giới tử tại Hội trường chính Việt Nam Quốc Tự. Buổi chiều cùng ngày sẽ diên ra tụng luật và truyền giới Sadi, Thập sư nhị bộ sẽ truyền giới Tỳ kheo và Tỳ kheo ni

Những hình ảnh được ghi nhận tại buổi lễ:

Tin, ảnh: Nhóm PV Thời sự PSO
Nguồn: Phật Sự Online

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu